CHÍNH SÁCH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG TẠI CỘNG ĐỒNG TỪ NGÀY 05/10/2026
Nghị định 335/2026/NĐ-CP của Chính phủ có hiệu lực từ ngày 05/10/2026 về chính sách trợ giúp xã hội đã thiết lập quy định mới về việc chăm sóc, nuôi dưỡng những người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn ngay tại cộng đồng. Chính sách này có ý nghĩa nhân văn, nhằm tạo điều kiện để trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật và các đối tượng cần bảo vệ khẩn cấp được chăm sóc trong môi trường gia đình, cộng đồng thay vì phải đưa ngay vào cơ sở trợ giúp xã hội.
Từ góc độ pháp lý, đây cũng là chính sách mà hộ gia đình, cá nhân có nguyện vọng nhận chăm sóc, nuôi dưỡng cần hiểu rõ về đối tượng, điều kiện và trách nhiệm của mình trước khi thực hiện.
Chăm sóc, nuôi dưỡng tại cộng đồng được hiểu như thế nào?
Theo khoản 1 Điều 2 Nghị định 335/2026/NĐ-CP định nghĩa về nhận chăm sóc, nuôi dưỡng tại cộng đồng như sau:
“Nhận chăm sóc, nuôi dưỡng tại cộng đồng là việc hộ gia đình hoặc cá nhân nhận chăm sóc, nuôi dưỡng người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn tại hộ gia đình.”
Đáng chú ý, chính sách này không chỉ hướng đến trẻ em mà còn mở rộng đối tượng được chăm sóc, nuôi dưỡng tại cộng đồng, bao gồm người cao tuổi, người khuyết tật và một số đối tượng cần được bảo vệ khẩn cấp.
Như vậy, chính sách được xây dựng theo hướng bảo đảm người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn được chăm sóc trong môi trường cộng đồng phù hợp, an toàn và có sự kiểm soát của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Đối tượng thuộc diện được nhận chăm sóc, nuôi dưỡng tại cộng đồng?
Theo Điều 15 Nghị định 335/2026/NĐ-CP, nhóm đối tượng được nhận chăm sóc, nuôi dưỡng tại cộng đồng gồm nhiều trường hợp khác nhau.
Thứ nhất, trẻ em dưới 16 tuổi có hoàn cảnh đặc biệt. Bao gồm:
- Bị bỏ rơi chưa có người nhận làm con nuôi;
- Trẻ em mà cả cha mẹ đẻ đã chết hoặc một trong hai người đã chết và người kia không xác định được;
- Trẻ em có cha hoặc mẹ đã chết hoặc không xác định được và người còn lại bị tuyên bố mất tích theo quy định của pháp luật;
- Trẻ em có cha hoặc mẹ đã chết hoặc không xác định được và người còn lại đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội;
- Trẻ em có cha hoặc mẹ đã chết hoặc không xác định được và người còn lại đang trong thời gian chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;
- Cả cha và mẹ bị tuyên bố mất tích theo quy định của pháp luật;
- Cả cha và mẹ đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội;
- Cả cha và mẹ đang trong thời gian chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;
- Cha hoặc mẹ bị tuyên bố mất tích theo quy định của pháp luật và người còn lại đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội;
- Cha hoặc mẹ bị tuyên bố mất tích theo quy định của pháp luật và người còn lại đang trong thời gian chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;
- Cha hoặc mẹ đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội và người còn lại đang trong thời gian chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Lưu ý, trường hợp đang hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng mà đủ 16 tuổi nhưng đang học giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên, giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học văn bằng thứ nhất nếu quá trình học liên tục không bị gián đoạn (trừ trường hợp được tạm dừng học, bảo lưu kết quả học tập theo quy định của pháp luật về giáo dục) thì tiếp tục được hưởng chính sách trợ giúp xã hội cho đến khi kết thúc học.
Quy định này cho thấy pháp luật đặc biệt quan tâm đến quyền được chăm sóc và bảo vệ của trẻ em trong trường hợp không còn hoặc không thể nhận được sự chăm sóc phù hợp từ cha mẹ.
Thứ hai, người cao tuổi thuộc trường hợp đặc biệt, cụ thể là người cao tuổi thuộc hộ nghèo, không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng, không có điều kiện sống ở cộng đồng, đủ điều kiện tiếp nhận vào cơ sở trợ giúp xã hội nhưng có người nhận nuôi dưỡng, chăm sóc tại cộng đồng.
Điều này thể hiện nguyên tắc ưu tiên việc chăm sóc người cao tuổi trong môi trường phù hợp, đồng thời bảo đảm họ vẫn có cơ hội được sống trong cộng đồng thay vì phải phụ thuộc hoàn toàn vào cơ sở trợ giúp xã hội.
Thứ ba, người khuyết tật nặng và người khuyết tật đặc biệt nặng
Theo quy định, người khuyết tật nặng, người khuyết tật đặc biệt nặng theo pháp luật về người khuyết tật thuộc nhóm được xem xét nhận chăm sóc, nuôi dưỡng tại cộng đồng. Đây là nhóm cần sự chăm sóc thường xuyên, do đó người nhận chăm sóc phải có đủ điều kiện về sức khỏe, kinh nghiệm, kỹ năng và điều kiện kinh tế.
Đối tượng cần bảo vệ khẩn cấp cũng có thể được chăm sóc tại cộng đồng
Một điểm đáng chú ý của Nghị định 335/2026/NĐ-CP là chính sách không chỉ áp dụng cho các trường hợp có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn kéo dài mà còn bao gồm đối tượng cần được bảo vệ khẩn cấp.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 15 Nghị định này, đối tượng cần bảo vệ khẩn cấp bao gồm:
- Trẻ em có cả cha và mẹ đã chết hoặc mất tích nhưng không có người thân thích chăm sóc, nuôi dưỡng hoặc người thân thích không có khả năng chăm sóc;
- Nạn nhân của bạo lực gia đình;
- Nạn nhân bị ngược đãi, bỏ rơi, xâm hại tình dục hoặc xâm hại thân thể;
- Nạn nhân bị mua bán;
- Nạn nhân bị cưỡng bức lao động;
- Trẻ em, người lang thang xin ăn trong thời gian chờ đưa về nơi cư trú hoặc đưa vào cơ sở trợ giúp xã hội;
- Các trường hợp cần bảo vệ khẩn cấp khác theo quyết định của Chủ tịch UBND cấp tỉnh trong phạm vi được phân cấp.
Đây là quy định có ý nghĩa đặc biệt trong việc can thiệp và bảo vệ kịp thời những người đang ở trong tình trạng nguy hiểm hoặc không có nơi nương tựa.
Điều kiện đối với người nhận chăm sóc, nuôi dưỡng
Một trong những vấn đề cần đặc biệt lưu ý là việc nhận chăm sóc, nuôi dưỡng tại cộng đồng không phải là quan hệ tự nguyện đơn thuần giữa hai bên.
Người muốn nhận trẻ em phải đáp ứng các điều kiện theo khoản 1 Điều 19 Nghị định 335/2026/NĐ-CP, gồm:
- Có đầy đủ năng lực hành vi dân sự;
- Thực hiện tốt chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước;
- Tự nguyện nhận chăm sóc trẻ em;
- Có nơi ở ổn định và chỗ ở phù hợp cho trẻ;
- Có điều kiện về kinh tế, sức khỏe và kinh nghiệm chăm sóc trẻ em;
- Nếu đang sống cùng vợ hoặc chồng thì người vợ hoặc chồng cũng phải đáp ứng các điều kiện nhất định theo quy định.
Như vậy, việc một cá nhân có mong muốn nhận trẻ về nuôi dưỡng chưa đủ để đương nhiên được công nhận. Cơ quan có thẩm quyền còn phải xem xét các điều kiện thực tế nhằm bảo đảm rằng môi trường chăm sóc mới thực sự phù hợp với trẻ.
Đối với người nhận chăm sóc, nuôi dưỡng người khuyết tật hoặc người cao tuổi, khoản 1 Điều 20 Nghị định 335/2026/NĐ-CP yêu cầu:
- Có đầy đủ năng lực hành vi dân sự và thực hiện tốt chính sách, pháp luật của Nhà nước.
- Có sức khỏe, kinh nghiệm và kỹ năng chăm sóc người cao tuổi, người khuyết tật.
- Có nơi ở ổn định và nơi ở dành cho người được nhận chăm sóc.
- Có điều kiện kinh tế để bảo đảm việc chăm sóc.
- Nếu người nhận đang sống cùng vợ hoặc chồng thì người vợ hoặc chồng cũng phải đáp ứng các điều kiện theo quy định.
Có thể thấy, pháp luật đặt ra yêu cầu khá rõ ràng về năng lực, điều kiện vật chất và khả năng chăm sóc thực tế, thay vì chỉ căn cứ vào mong muốn cá nhân.
KẾT LUẬN
Quy định về chăm sóc, nuôi dưỡng tại cộng đồng theo Nghị định 335/2026/NĐ-CP là một chính sách trợ giúp xã hội có ý nghĩa thiết thực, hướng đến việc tạo môi trường chăm sóc phù hợp hơn cho những người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn.
Điểm đáng chú ý là pháp luật đồng thời xác định khá cụ thể nhóm đối tượng được chăm sóc và điều kiện đối với người nhận chăm sóc, qua đó hạn chế việc lợi dụng chính sách hoặc tiếp nhận đối tượng khi không bảo đảm điều kiện.
Đặc biệt, đối với trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật và nạn nhân cần bảo vệ khẩn cấp, mọi quyết định liên quan đến việc chăm sóc phải đặt quyền và lợi ích hợp pháp của người được chăm sóc làm trọng tâm.
CÔNG TY LUẬT TNHH ĐÔNG DƯƠNG VIỆT
ĐỨC – TRÍ – TÍN
Sắc bén trong giải pháp – Vững vàng trong niềm tin
